ThieuLamTu.comThiếu Lâm Tự
Võ gốc Thiếu Lâm ở Việt Nam

Võ Hoa ở Việt Nam theo năm bang: người Quảng, Phúc Kiến, Triều Châu, Hẹ và Hải Nam

Võ gốc Thiếu Lâm vào Việt Nam theo chân năm bang người Hoa. Mỗi bang đến từ một vùng quê, mang theo lối võ, lối múa lân và nếp thờ tổ khác nhau.

Narrow old street in Hoi An at early morning, yellow walls and wooden shutters, a carved gate of a Chinese assembly hall seen from afar, no readable writing, one cyclist from behind

Võ gốc Thiếu Lâm có mặt ở Việt Nam chủ yếu theo con đường di dân của người Hoa, và con đường ấy chia thành năm nhánh lớn theo năm bang: Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Hẹ (Khách Gia) và Hải Nam. Mỗi bang đến từ một vùng quê riêng ở miền Nam Trung Hoa, nói một thứ tiếng riêng, lập hội quán riêng, và mang theo những lối võ vốn phổ biến ở quê mình. Vì thế, khi một người Việt bảo mình tập "võ Thiếu Lâm của người Hoa", câu hỏi đầu tiên nên là: người Hoa bang nào, quê ở đâu.

Bài này đi theo từng bang để bạn thấy bức tranh chung: họ đến Việt Nam khi nào, tụ ở đâu, và những lối võ nào thường được nhắc là gắn với họ. Phần về từng môn phái chỉ ở mức gốc tích, không đi vào bài quyền hay cách tập. Những chỗ tư liệu còn mỏng sẽ được nói rõ là còn mỏng, vì lịch sử võ thuật của cộng đồng người Hoa ở Việt Nam phần lớn vẫn nằm trong trí nhớ của các võ quán chứ chưa được viết thành sách.

Người Hoa đến Việt Nam qua nhiều đợt, không phải một lần

Người Hoa có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, nhưng các cộng đồng còn để lại dấu ấn rõ đến nay chủ yếu hình thành từ thế kỷ XVII trở đi. Ở Hội An (nay thuộc thành phố Đà Nẵng), thương nhân người Hoa lập phố buôn từ thời các chúa Nguyễn, sau thêm lớp người Minh Hương, tức những người gốc Hoa không chịu theo nhà Thanh và ở lại lập làng. Năm 1679, nhóm Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên đem theo khoảng ba nghìn người và vài chục chiến thuyền xin chúa Nguyễn cho cư trú, được cho vào khai phá vùng Biên Hòa (nay thuộc Đồng Nai) và Mỹ Tho (nay thuộc Đồng Tháp). Gần như cùng thời, Mạc Cửu mở đất Hà Tiên (nay thuộc An Giang).

Cù Lao Phố ở Biên Hòa là thương cảng lớn của người Hoa suốt thế kỷ XVIII, đến khi bị tàn phá trong chiến tranh cuối thế kỷ ấy. Nhiều thương nhân dời về vùng đất mà ngày nay là Chợ Lớn, và Chợ Lớn dần thành trung tâm của người Hoa ở Nam Bộ. Các đợt di dân lớn tiếp theo diễn ra trong thời Pháp thuộc, khi Sài Gòn – Chợ Lớn cần nhiều nhân công, thợ thủ công và người buôn lúa gạo.

Điều đáng chú ý cho chuyện võ là: người đi trước thường là thương nhân, thợ thuyền, người làm ruộng, còn võ quán theo nghĩa một nơi dạy võ có thầy có trò, có bàn thờ tổ, chỉ rõ nét khi cộng đồng đã đông và ổn định. Vì vậy hầu hết các võ quán gốc Hoa mà người Việt còn nhớ tên đều thuộc giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX sang thế kỷ XX, không phải từ thời mở đất.

Năm bang và những lối võ thường được nhắc tới

Bảng dưới là cách gom phổ biến trong tư liệu về võ thuật miền Nam Trung Hoa. Một lối võ không thuộc độc quyền của bang nào; người Quảng vẫn tập võ Phúc Kiến và ngược lại. Cột cuối chỉ nêu những tên mà giới nghiên cứu võ thuật thường gắn với vùng quê đó.

BangQuê gốcNơi tụ cư tiêu biểu ở Việt NamLối võ thường gắn với vùng quê
Quảng Đông (người Quảng)Vùng châu thổ Châu Giang: Quảng Châu, Phật Sơn, Tân HộiChợ Lớn, Hội An, các thị xã Nam BộHồng gia, Thái Lý Phật, Lưu gia, Lý gia, Mạc gia, Vịnh Xuân
Phúc KiếnTuyền Châu, Chương Châu, Hạ MônHội An, Chợ Lớn, Biên HòaBạch hạc quyền, Ngũ tổ quyền, Thái tổ quyền
Triều ChâuVùng Triều Sán, đông bắc Quảng ĐôngChợ Lớn, Sóc Trăng (nay thuộc Cần Thơ), Bạc Liêu (nay thuộc Cà Mau)Điệu múa anh ca mang động tác võ; các lối quyền vùng Triều Sán
Hẹ (Khách Gia)Vùng đồi núi Mai Châu, Huệ ChâuChợ Lớn, Biên Hòa, rải rác Nam BộBạch Mi, Long hình, Châu gia đường lang
Hải NamĐảo Hải NamHội An, Chợ Lớn, các cảng biểnTư liệu về võ riêng của bang này ở Việt Nam còn rất ít

Hãy đọc bảng như một tấm bản đồ phương hướng, không phải như sổ đăng ký. Một võ quán ở Chợ Lớn có thể do người Hẹ mở nhưng dạy Hồng gia, vì thầy học Hồng gia ở Quảng Châu trước khi sang. Muốn biết chính xác một dòng võ đi đường nào, phải lần theo từng đời thầy chứ không suy từ bang.

Người Quảng: nhóm để lại dấu ấn võ thuật rõ nhất

Trong năm bang, người Quảng Đông thường được nhắc nhiều nhất khi nói về võ Hoa ở Việt Nam. Lý do một phần nằm ở quê gốc: vùng châu thổ Châu Giang, với Phật Sơn và Quảng Châu, là nơi các hệ quyền mang tên Nam Thiếu Lâm phát triển mạnh vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Các tên Hồng gia, Thái Lý Phật, Lưu gia, Lý gia, Mạc gia, gọi chung là Ngũ đại gia của Quảng Đông, đều thuộc vùng này. Truyền thuyết chung của họ đều quy về một ngôi chùa Thiếu Lâm phương Nam, chuyện mà giới nghiên cứu vẫn còn tranh luận.

Lý do thứ hai là người Quảng mang theo múa lân kiểu Quảng, loại lân đầu to, có sừng, múa theo nhịp trống mạnh. Ở quê họ, đội lân gần như luôn gắn với một võ quán, vì bộ chân múa lân dựa trên tấn pháp của võ. Khi sang Việt Nam, cặp võ quán – đội lân ấy đi theo nguyên vẹn. Đến nay, hình ảnh người Việt quen thuộc nhất về võ người Hoa vẫn là đội lân Chợ Lớn tập trước cửa hội quán, và phần lớn trong số đó có gốc Quảng.

Lý do thứ ba đến muộn hơn: phim võ thuật Hồng Kông, nói tiếng Quảng, kể chuyện các nhân vật Phật Sơn. Phim làm cho những cái tên như Hồng gia, Hoàng Phi Hồng trở nên quen với người Việt không có gốc Hoa. Phần đó thuộc chuyện màn ảnh, chỉ cần nhớ rằng phim đến sau, còn võ quán người Quảng ở Chợ Lớn đã có từ trước.

Phúc Kiến, Triều Châu, Hẹ, Hải Nam: những mảnh ít được kể

Người Phúc Kiến. Phúc Kiến có truyền thống võ lâu đời, nhất là quanh Tuyền Châu với các lối Bạch hạc quyền, Ngũ tổ quyền, Thái tổ quyền. Ở Việt Nam, người Phúc Kiến đông và giàu có, lập nhiều hội quán đẹp ở Hội An và Chợ Lớn. Thế nhưng tư liệu bằng tiếng Việt về võ quán riêng của bang này rất ít; phần lớn võ Phúc Kiến được biết đến ở Đông Nam Á qua Malaysia, Singapore, Philippines hơn là qua Việt Nam.

Người Triều Châu. Người Triều Châu tụ đông ở miền Tây Nam Bộ, quanh Sóc Trăng, Bạc Liêu và ở Chợ Lớn. Quê họ nổi tiếng với điệu múa anh ca, một lối múa tập thể cầm gậy ngắn với nhiều động tác lấy từ võ. Đến nay, dấu vết võ Triều Châu ở Việt Nam chủ yếu hiện ra trong lễ hội, đoàn rước của cộng đồng hơn là trong võ quán mang tên riêng.

Người Hẹ. Người Hẹ sống rải rác, nhiều người làm nghề thủ công, nghề đá, nghề thuốc. Các lối võ mà giới nghiên cứu gắn với người Hẹ như Bạch Mi, Long hình, Châu gia đường lang đều nổi tiếng là ngắn, gọn, đánh gần. Ở Việt Nam, các tên này có xuất hiện trong lời kể của võ giới gốc Hoa, nhưng nhiều chi tiết về người truyền và năm truyền vẫn chưa được kiểm chứng.

Người Hải Nam. Người Hải Nam ở Việt Nam gắn nhiều với nghề biển, nghề nấu ăn, buôn bán ven cảng. Hội quán Hải Nam ở Hội An và Chợ Lớn còn đó, nhưng hầu như không có tư liệu phổ thông nào về một dòng võ riêng của bang này ở Việt Nam. Thay vì đoán, cách trung thực là ghi nhận khoảng trống ấy.

Hội quán: nơi võ quán nương nhờ trong buổi đầu

Với người Hoa xa quê, hội quán là trung tâm của đời sống cộng đồng. Đó vừa là nơi thờ thần của quê nhà (Thiên Hậu, Quan Công hay vị thần riêng của từng vùng quê), vừa là nơi hội họp, giải quyết tranh chấp, lo việc tang, mở trường dạy chữ và chăm người nghèo, người ốm. Hội quán có sân rộng, có chỗ cất đồ, có những dịp lễ lớn cần biểu diễn, nên võ quán và đội lân trong buổi đầu thường nương vào hội quán.

Sự gắn bó ấy giải thích vì sao ký ức về võ Hoa ở Việt Nam thường xoay quanh những dịp lễ của hội quán: Tết, rằm tháng Giêng, ngày vía Bà Thiên Hậu, ngày vía Quan Công. Đó là lúc đội lân ra sân, các môn sinh biểu diễn quyền, binh khí. Ngoài các dịp ấy, việc tập luyện diễn ra trong không gian nhỏ hơn, ở hậu viện, ở sân nhà thầy, ở một căn gác thuê trong phố.

Về tổ chức xã hội của võ quán gốc Hoa xưa, cách họ gắn với hội quán, đội lân và nghề thuốc trật đả, chuyên mục này có bài riêng. Ở đây chỉ cần ghi nhớ rằng võ gốc Thiếu Lâm ở Việt Nam trước hết là một sinh hoạt cộng đồng của người Hoa, rồi mới dần mở ra cho người Việt theo học.

Người Việt theo học từ khi nào

Không có một mốc năm chính xác cho việc người Việt bắt đầu theo học võ ở các võ quán người Hoa. Lời kể trong các võ phái cho thấy quá trình ấy diễn ra từ từ: ban đầu là người Việt sống xen trong khu người Hoa, làm cùng chỗ, học cùng trường, rồi xin vào tập. Có thầy chỉ dạy người cùng bang, có thầy mở rộng hơn. Đến giữa thế kỷ XX, ở Sài Gòn – Chợ Lớn đã có nhiều người Việt học võ Hoa và về sau tự mở lớp.

Quá trình này để lại một hệ quả mà người tập hôm nay cần biết: nhiều dòng võ ở Việt Nam mang tên Thiếu Lâm hoặc mang tên một môn phái Quảng Đông nhưng đã qua hai, ba đời thầy người Việt. Bài quyền có thể đã được đổi tên, thêm bớt, gộp với những gì thầy học ở nơi khác. Điều đó bình thường với mọi truyền thống truyền miệng, và không làm dòng võ ấy kém giá trị. Nó chỉ nhắc rằng khi tra gốc tích, bạn cần đi qua từng đời người cụ thể.

Song song, võ cổ truyền của người Việt như võ Bình Định, võ Thất Sơn hay Vovinam có lịch sử riêng, và các lần gặp gỡ giữa hai bên là chuyện đi về cả hai phía. Chuyên mục này có bài riêng về chỗ giao thoa ấy, viết theo hướng ghi nhận chứ không xếp ai là gốc của ai.

Khi đọc lời giới thiệu "võ Thiếu Lâm của người Hoa"

Nếu bạn đang tìm hiểu một võ quán, một clip biểu diễn hay một bài báo cũ có nhắc tới võ Hoa ở Việt Nam, mấy câu hỏi dưới giúp đặt nó vào đúng chỗ trong bức tranh năm bang:

  • Người thầy đầu tiên của dòng này là người Hoa bang nào, quê ở huyện nào? Thông tin càng cụ thể càng dễ kiểm.
  • Dòng này gọi tên mình theo kiểu Quảng (Hồng gia, Thái Lý Phật), kiểu Phúc Kiến (Bạch hạc, Ngũ tổ) hay chỉ gọi chung là Thiếu Lâm?
  • Võ quán có gắn với một hội quán, một đội lân, một tiệm thuốc không? Đó là dấu vết của tổ chức võ quán gốc Hoa truyền thống.
  • Thầy học ở Trung Hoa trước khi sang, hay học từ một người thầy đã ở Việt Nam? Hai trường hợp cho hai kiểu tư liệu khác nhau.
  • Có ảnh cũ, giấy tờ cũ, bài báo cũ nào nhắc tới không? Lời kể truyền miệng đáng quý, nhưng nên tìm thêm bằng chứng đi kèm.

Không trả lời được hết các câu trên là chuyện thường. Trả lời được câu nào, bạn đã có thêm một điểm tựa để hiểu dòng võ mình đang quan tâm.

Câu hỏi thường gặp

Võ Hoa ở Việt Nam có phải đều là võ Thiếu Lâm không?

Không hẳn. Nhiều môn phái miền Nam Trung Hoa tự nhận gốc Thiếu Lâm qua truyền thuyết, nhưng cũng có lối võ không gắn tên Thiếu Lâm, và có những dòng như Vịnh Xuân có truyền thuyết riêng. Chữ Thiếu Lâm trong tên gọi thường là cách nhận tổ, chưa chắc là bằng chứng lịch sử.

Bang nào của người Hoa ở Việt Nam có nhiều võ quán nhất?

Theo lời kể phổ biến và những gì còn thấy qua đội lân, người Quảng Đông để lại dấu ấn rõ nhất, vì quê họ là vùng phát triển mạnh các hệ Nam quyền và họ đông ở Chợ Lớn. Tuy vậy chưa có thống kê nào đáng tin về số võ quán theo bang, nên đây chỉ là nhận định chung.

Người Minh Hương có liên quan gì tới võ Thiếu Lâm không?

Người Minh Hương là lớp người gốc Hoa đến từ thế kỷ XVII, lập làng và dần hoà vào người Việt. Không có tư liệu đáng tin nào cho thấy họ mang theo một dòng võ Thiếu Lâm riêng. Các võ quán gốc Hoa mà người Việt biết tên phần lớn thuộc giai đoạn muộn hơn nhiều.

Hội An có võ quán người Hoa không?

Hội An có các hội quán của Phúc Kiến, Quảng Triệu, Triều Châu, Hải Nam và hội quán chung của các bang, với múa lân trong các dịp lễ. Tư liệu phổ thông về võ quán riêng ở Hội An không nhiều; nếu bạn quan tâm, nên hỏi trực tiếp ban quản lý hội quán hoặc người cao tuổi trong cộng đồng.

Vì sao ít tài liệu viết về võ Hoa ở Việt Nam?

Vì phần lớn võ quán truyền dạy bằng miệng, bằng tiếng địa phương như tiếng Quảng, tiếng Triều Châu, tiếng Hẹ, và ít ghi chép thành văn. Nhiều tư liệu nếu có thì nằm trong báo Hoa ngữ cũ hoặc trong gia đình các thầy. Lớp người biết chuyện xưa cũng ngày càng ít đi.

Muốn tìm hiểu gốc một dòng võ Hoa nên bắt đầu từ đâu?

Bắt đầu từ người thầy gần nhất: hỏi thầy học ai, người ấy học ai, quê ở đâu, sang Việt Nam năm nào. Ghi lại cẩn thận, rồi đối chiếu với tư liệu của môn phái ở nơi khác. Chuyên mục này có bài hướng dẫn chi tiết cách tra gốc tích một dòng võ.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183