ThieuLamTu.comThiếu Lâm Tự
Võ gốc Thiếu Lâm ở Việt Nam

Múa lân kiểu Quảng và võ quán người Hoa: vì sao đội lân Chợ Lớn thường là võ đường

Lân kiểu Quảng ở Chợ Lớn gắn với võ quán vì bộ chân múa lân chính là tấn pháp. Bài giải thích hai kiểu đầu lân, nhịp trống, điểm nhãn và tục hái lộc.

Two lion dance heads in red and yellow resting on a wooden bench inside an old Saigon Chinese quarter hall, a large drum beside them, soft window light, no people

Đội lân của người Hoa gốc Quảng ở Chợ Lớn thường là một võ đường, vì múa lân kiểu Quảng dựng trên nền tấn pháp, sức bền và kỷ luật của người tập võ. Người múa đầu lân phải giữ tấn thấp hàng chục phút, chuyển bộ theo nhịp trống, nhảy lên vai đồng đội; người múa đuôi phải khom lưng đỡ toàn bộ chuyển động. Ở quê gốc Quảng Đông, ai muốn múa lân thì trước hết vào học võ, và võ quán nào cũng nuôi một đội lân.

Bài này nói về lân kiểu Quảng, loại lân đầu to có sừng, thường thấy ở Chợ Lớn dịp Tết và khai trương. Lân của người Việt, như lân Trung thu hay các đội lân làng, có lịch sử và hình dáng riêng; trang khác trong hệ đã kể về nghệ thuật ấy. Ở đây, câu chuyện xoay quanh mối liên hệ giữa đầu lân với võ quán gốc Hoa: hai kiểu đầu lân, nhịp trống, lễ điểm nhãn, tục hái lộc, và những gì đổi khác khi múa lân thành môn thi đấu.

Vì sao lân đi cùng võ: chuyện của đôi chân

Múa lân kiểu Quảng không phải điệu múa của tay mà là điệu múa của chân. Người múa đầu lân đứng tấn để hạ thấp thân, giữ đầu lân ngang tầm, rồi chuyển từ tấn này sang tấn khác theo diễn biến: lân ngủ, lân thức, lân dò đường, lân thấy lộc, lân vui mừng. Các bước ấy gọi chung là bộ pháp, và đa phần lấy thẳng từ võ: tấn ngang, tấn chéo, tấn một chân, bước lùi, bước xoay. Người múa đuôi phải đi theo đúng nhịp, gần như ôm lấy hông người phía trước.

Sức bền cũng là thứ chỉ có được qua tập luyện đều. Một tiết mục múa lân ngoài phố kéo dài nhiều phút liền, đầu lân bằng tre và giấy bồi tuy nhẹ nhưng giơ lâu thì mỏi, nhất là khi phải nâng cao lên hoặc lắc liên tục. Học trò võ quán quen với bài tập tấn, quen chịu mỏi, nên chuyển sang múa lân tự nhiên hơn người ngoài.

Cuối cùng là kỷ luật nhóm. Một đội lân gồm người múa đầu, người múa đuôi, người đánh trống, người đánh chiêng, người đánh chũm chọe, và thường có thêm nhân vật đùa với lân. Mọi người phải nghe trống mà đi. Nếp thầy trò, sư huynh sư đệ của võ quán là cái khung có sẵn để tổ chức một nhóm như vậy. Vì những lý do đó, ở Quảng Đông và theo đó ở Chợ Lớn, nói "đội lân của võ quán" gần như là nói một điều hiển nhiên.

Hai kiểu đầu lân Quảng thường gặp: Phật Sơn và Hạc Sơn

Lân kiểu Quảng có nhiều biến thể, nhưng hai kiểu được nhắc nhiều nhất là Phật Sơn và Hạc Sơn, đặt theo tên hai vùng ở Quảng Đông. Bảng dưới nêu những khác biệt hay được giới múa lân mô tả; từng xưởng làm đầu lân vẫn có cách riêng.

Khía cạnhLân Phật SơnLân Hạc Sơn
Hình dáng đầuTrán cao, tròn, mắt to, vẻ uy nghiTrán thấp hơn, miệng dài giống mỏ, dáng gần con vật thật hơn
Thời điểm phổ biếnKiểu cũ, có từ trướcHình thành ở Quảng Đông vào đầu thế kỷ XX
Lối múaChú trọng tấn pháp, dáng oai, nhịp chắcChú trọng diễn tả tâm trạng, động tác linh hoạt hơn
Ở thi đấu hiện nayVẫn dùng trong biểu diễn truyền thốngĐược nhiều đội dùng khi múa trên cọc
Ý nghĩa với võ quánGắn với các võ quán Nam quyền lâu đờiLan rộng nhờ các đội trẻ, các giải thi

Ngoài hai kiểu trên còn có lân Bắc, tức sư tử phương Bắc phủ lông dài, giống con sư tử thật, thường múa theo đôi và thiên về nhào lộn. Lân Bắc gắn với võ phương Bắc Trung Hoa và ít gặp ở Chợ Lớn hơn lân Quảng.

Màu lân, nhịp trống và những nhân vật đi kèm

Màu đầu lân. Theo cách kể phổ biến trong giới múa lân kiểu Quảng, lân vàng râu trắng tượng trưng cho Lưu Bị, lân đỏ râu đen cho Quan Công, lân đen cho Trương Phi, gợi tới ba nhân vật kết nghĩa trong truyện Tam Quốc. Ngày nay, đầu lân có rất nhiều màu theo ý thích của đội, và cách gán nhân vật chỉ còn là một lớp ý nghĩa truyền thống.

Bộ nhạc. Đội lân Quảng thường dùng trống lớn, chiêng và chũm chọe. Người đánh trống là "nhạc trưởng": nhịp trống báo cho lân biết lúc nào dò dẫm, lúc nào vồ, lúc nào mừng rỡ. Học trò giỏi trong võ quán thường phải học cả trống, vì đánh trống đúng cần hiểu từng động tác của lân.

Đại đầu Phật. Trong múa lân kiểu Quảng có nhân vật đeo mặt nạ đầu to, mặt cười, cầm quạt trêu lân, thường gọi là Đại đầu Phật. Ở Việt Nam, vai này thường được thay bằng ông Địa bụng phệ, một hình tượng quen thuộc với người Nam Bộ. Sự thay thế ấy là một ví dụ nhỏ về chuyện văn hoá người Hoa và người Việt hoà vào nhau qua múa lân.

Rồng và sư. Nhiều đội ở Chợ Lớn có cả rồng, cần nhiều người cầm sào nâng thân rồng. Múa rồng đòi hỏi đội hình đông, ăn ý, và cũng thường do võ quán đảm nhận. Cụm từ "lân sư rồng" quen thuộc với người Việt phản ánh đúng sự hiện diện của cả ba trong một đội.

Lễ điểm nhãn: khi đầu lân mới bắt đầu "sống"

Một đầu lân mới làm xong chưa được đem ra múa ngay. Theo nếp truyền thống của người Hoa gốc Quảng, đầu lân phải qua lễ điểm nhãn, còn gọi là khai quang: người được mời, thường là người có uy tín trong cộng đồng hoặc trong võ quán, dùng bút lông chấm mực đỏ chu sa lên mắt lân, và thường cả trán, sừng, mũi, tai. Lễ thường làm ở hội quán, ở miếu, hoặc trước bàn thờ tổ của võ quán, kèm tiếng trống chiêng.

Ý nghĩa của lễ, theo quan niệm truyền thống, là "đánh thức" con lân, biến một vật làm bằng tre giấy thành linh vật của đội. Từ đó, nhiều đội có những kiêng kỵ riêng: không bước qua đầu lân, không đặt đầu lân xuống đất bừa bãi, không để người ngoài đội cầm chơi. Khi đầu lân cũ quá không dùng được, có đội làm lễ tiễn, đốt đầu lân theo một nghi thức nhất định.

Bạn nên hiểu lễ điểm nhãn như một phần văn hoá của cộng đồng và của võ quán, tương tự lễ khánh thành hay lễ ra mắt. Mỗi đội có trình tự riêng, mỗi vùng quê gốc có cách làm khác; không có một "chuẩn" duy nhất. Nếu được mời dự, cách ứng xử đúng là đứng nghiêm trang, không chen lên chụp ảnh sát đầu lân khi đang làm lễ.

Tục hái lộc: lân "ăn rau" để làm gì

Tục hái lộc của lân Quảng có tên gốc là "thái thanh", nghĩa là hái rau xanh. Chủ nhà hay chủ cửa hàng treo một bó rau, thường là rau diếp, kèm phong bao đỏ ở chỗ cao hoặc trên một cái mâm. Lân phải dò dẫm, thăm chừng, rồi vươn lên hoặc được đồng đội đỡ lên để "ăn" bó rau, nhai, rồi nhả rau ra như rải lộc cho chủ nhà. Trong tiếng Quảng, tên gọi rau diếp nghe gần với chữ "sinh tài", nên bó rau mang ý chúc làm ăn khấm khá.

Với võ quán, phần hái lộc là chỗ thể hiện tay nghề. Lộc treo càng cao, càng khó, đội càng phải giỏi. Ngày xưa có những cách treo lộc mang tính thử thách giữa các đội, đòi hỏi đội lân phải đoán được ý chủ nhà và tìm cách giải. Những câu chuyện về các màn "giải lộc" khó được kể lại nhiều trong võ giới, dù không phải chuyện nào cũng kiểm chứng được.

Tục hái lộc ở Việt Nam có thay đổi: lộc có khi là bao lì xì kèm trái cây, cây mía, chuỗi pháo giấy trang trí. Về cách đón đoàn lân khai trương, cách chuẩn bị lộc cho gọn và an toàn, hệ có trang riêng viết theo góc của chủ cửa hàng. Ở đây chỉ nhắc rằng chính tục hái lộc từng là sân thử tài của các võ quán, và vì thế gắn chặt với lịch sử võ gốc Hoa.

Từ phố xá lên cọc thi đấu: múa lân hôm nay

Trong mấy chục năm gần đây, múa lân kiểu Quảng đã thành một môn biểu diễn và thi đấu có luật. Lối múa trên cọc, gọi là mai hoa thung, với các trụ cao thấp khác nhau, phát triển mạnh ở Malaysia vào cuối thế kỷ XX rồi lan ra nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Các đội Việt Nam, nhiều đội có gốc từ võ đường người Hoa ở TP.HCM, đã tham gia các giải trong và ngoài nước.

Thi đấu đem lại sức sống mới cho múa lân, kéo nhiều người trẻ tham gia, nhưng cũng làm thay đổi mối quan hệ với võ. Một số đội tập lân chuyên sâu mà không còn dạy quyền như võ quán xưa; người múa có nền thể lực, nhào lộn tốt nhưng không học bài quyền nào. Có đội vẫn giữ nguyên nếp cũ: học trò học võ trước, múa lân sau, giữ bàn thờ tổ và lễ điểm nhãn.

Múa trên cọc là hoạt động có rủi ro chấn thương thật: ngã từ độ cao, trật cổ chân, chấn thương cột sống. Người xem clip rồi bắt chước nhảy lên cột, lên ghế ở nhà là chuyện đáng lo. Múa lân trên cọc chỉ nên tập trong đội có huấn luyện viên, có đệm lót, có quy trình an toàn. Về các yêu cầu mặt bằng, an toàn cho tiết mục lân trên cọc, hệ có trang riêng viết cho người tổ chức sự kiện.

Một năm của đội lân Chợ Lớn

Lịch của một đội lân gốc Hoa ở Chợ Lớn bám theo lịch lễ của cộng đồng. Bận nhất là những ngày giáp Tết và mấy ngày đầu năm, khi các cửa hàng, công ty, gia đình mời lân đến chúc Tết. Kế đến là rằm tháng Giêng, tức Nguyên tiêu, khi các hội quán mở cửa đón khách và lân múa trước sân. Rải rác trong năm là các ngày vía của thần thờ ở hội quán, những dịp khai trương, động thổ, mừng thọ trong cộng đồng.

Ngoài các dịp ấy, đội lân sống bằng những buổi tập đều đặn, thường vào buổi tối khi người lớn đã xong việc và học trò nhỏ đã tan học. Mấy tuần trước Tết là thời gian tập dày nhất: luyện bài mới, sửa đầu lân, căng lại mặt trống, sắp xếp người đi các điểm. Với nhiều người trẻ gốc Hoa ở TP.HCM, những tối tập lân ấy là sợi dây nối họ với cộng đồng và với tiếng mẹ đẻ.

Sau mùa Tết, đội lân thường có buổi tổng kết trước bàn thờ tổ, chia phần lộc cho thành viên, dành một phần cho quỹ chung của đội và việc giỗ tổ. Cách chia mỗi nơi một khác, nhưng nguyên tắc chung là minh bạch trong đội và nhớ ơn những người thầy đã truyền nghề.

Câu hỏi thường gặp

Lân kiểu Quảng khác lân Việt ở chỗ nào?

Lân kiểu Quảng có đầu lớn, trán cao, có sừng, múa theo nhịp trống mạnh, dựa nhiều vào tấn pháp của võ. Lân của người Việt, như lân Trung thu và các đội lân làng, có hình dáng và lối múa riêng, nhiều nơi gọi là múa kỳ lân. Hai bên ảnh hưởng qua lại, nhất là ở Nam Bộ.

Có phải đội lân nào cũng là võ quán không?

Không. Ngày xưa ở Quảng Đông và Chợ Lớn, phần lớn đội lân gắn với võ quán. Ngày nay có nhiều đội lân độc lập, câu lạc bộ thanh thiếu niên, đội biểu diễn chuyên nghiệp không dạy võ. Tuy vậy, nhiều đội vẫn giữ nếp học tấn pháp như nền tảng.

Lễ điểm nhãn có bắt buộc không?

Đó là nếp truyền thống chứ không phải quy định. Phần lớn đội lân gốc Hoa vẫn làm lễ điểm nhãn khi có đầu lân mới, coi như lễ ra mắt. Trình tự và người chủ lễ do mỗi đội tự quyết, theo nếp của võ quán và cộng đồng.

Vì sao lân lại "ăn" rau diếp?

Tên rau diếp trong tiếng Quảng đọc gần với chữ mang nghĩa sinh tài, nên bó rau treo kèm phong bao mang ý chúc làm ăn phát đạt. Lân hái rau rồi rải ra là động tác trao lại lời chúc cho chủ nhà. Đây là ý nghĩa biểu tượng, không phải lời hứa về tài lộc.

Trẻ em có nên tập múa lân trên cọc không?

Chỉ nên tập trong đội có huấn luyện viên, có đệm lót và lộ trình tăng độ khó từ từ. Múa trên cọc có nguy cơ ngã và chấn thương thật. Phụ huynh nên hỏi kỹ về an toàn, và tuyệt đối không để trẻ bắt chước clip nhảy lên ghế, lên bàn ở nhà.

Đại đầu Phật và ông Địa có phải là một?

Không hẳn. Đại đầu Phật là nhân vật đeo mặt nạ đầu to trong múa lân kiểu Quảng. Ông Địa là hình tượng thần đất trong tín ngưỡng dân gian Nam Bộ. Ở Việt Nam, vai ông Địa thường thay chỗ Đại đầu Phật trong đội lân, nên nhiều người tưởng là một.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183